Kinh Doanh

Mỹ sở hữu thể lặp lại sai trái trong khủng hoảng 2009 – [Chi Tiết]

Pi Network

Bài chia sẽ: Mỹ sở hữu thể lặp lại sai trái trong khủng hoảng 2009.

Trong đợt suy thoái trước, chính phủ Mỹ giảm chi khá sớm, khiến cho quá trình phục hồi kéo dài và người dân ko thể tìm việc trong nhiều năm.

Hàng nghìn tỷ USD trợ cấp liên bang dành cho những hộ gia đình và doanh nghiệp đã giúp kinh tế Mỹ hồi phục trong đại dịch tốt hơn nhiều so với kỳ vọng. Tuy nhiên, khoản trợ cấp này đang dần cạn kiệt và triển vọng sở hữu gói kích thích mới trước ngày bầu cử 3/11 ngày càng mờ mịt. Trong lúc đó, đại dịch vẫn đang lây lan và hàng triệu người Mỹ vẫn thất nghiệp.

Nhiều tín hiệu cho thấy đà phục hồi của Mỹ đang dần mất đà, lúc số liệu tăng trưởng tiêu tiêu dùng và việc làm sút giảm. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp mới tại Mỹ tuần trước lại tăng, với 25.000 đơn.

Sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế chậm lại và trợ cấp của chính phủ giảm dần gợi nhớ tới giai đoạn sau khủng hoảng 2007 – 2009. Theo quan niệm của nhiều nhà phân tích, việc chính phủ Mỹ rút tương trợ sớm lúc đó đã làm đà phục hồi chững lại, khiến cho rất nhiều người ko thể tìm việc trong nhiều năm. Vài tuần sắp đây, nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng đã cảnh báo cả Mỹ và châu Âu về nguy cơ lặp lại sai trái này. Nhiều nước phản ứng sớm tại châu Âu cũng đang dần kết thúc tương trợ.

“Phản ứng chính sách ban sơ rất tốt, nhưng chúng ta cần nhiều hơn nữa”, Karen Dynan – cựu kinh tế trưởng tại Bộ Tài chính Mỹ dưới thời cựu tổng thống Barack Obama nhận xét, “Quyết định giảm chi tiêu công cách đây một thập kỷ thực sự đã kéo dài thời kỳ kinh tế yếu kém sau suy thoái”.

22 triệu người Mỹ đã bị thôi việc trong tháng 3 và 4. Ảnh: NYT

Hôm qua (24/9), Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho biết ông và chủ toạ Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi đã đồng ý phát động lại những cuộc nói chuyện về gói kích thích tiếp theo. Tuy nhiên, bà Pelosi lại thận trọng hơn về việc thương lượng và hai bên vẫn dị đồng sâu sắc cả về quy mô lẫn nội dung tương trợ.

Khả năng hai bên đạt thỏa thuận trong những tuần tới càng xa vời do trận chiến tìm người thay thế Thẩm phán Tòa án Tối ca Mỹ Ruth Bader Ginsburg vừa qua đời. “Đây là điều tôi rất lo ngại. Rằng chúng ta sở hữu thể sẽ chẳng sở hữu gói kích thích nữa”, Thượng nghị viên đảng cùng hòa Roy Blunt hôm qua nhận xét.

Còn một yếu tố khác khiến cho việc đạt thỏa thuận nhanh chóng càng bất khả thi. Đó là đà phục hồi kinh tế đúng là đang chậm lại, nhưng ko giảm tốc nhanh như những nhà kinh tế học cảnh báo trong trường hợp những chương trình tương trợ dần cạn kiệt.

Tăng trưởng việc làm trong tháng 7 và 8 chậm lại, nhưng vẫn tích cực. Tiêu tiêu dùng, vốn tăng mạnh sau lúc dòng tiền tương trợ chảy vào nền kinh tế hồi tháng 4, đã tăng chậm lại nhưng chưa giảm. Số vụ thải hồi (được theo dõi bằng số đơn xin bảo hiểm thất nghiệp) vẫn sở hữu xu hướng giảm, dù còn ở mức cao so với trước đây.

Dù vậy, nhiều nhà phân tích cho biết việc để nền kinh tế tăng trưởng ở mức chậm như hiện tại, với hàng triệu người thất nghiệp, sở hữu thể tạo ra hậu quả kinh tế dài hạn. Số vị trí những doanh nghiệp tuyển lại chưa bằng nửa số lao động đã bị thải hồi trong tháng 3 và 4. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn đang cao hơn đỉnh của rất nhiều đợt suy thoái trước. Ngay cả những dự đoán lạc quan nhất cũng cho rằng GDP năm nay sẽ giảm mạnh hơn cuộc suy thoái trước.

“Đà phục hồi chững lại lúc chúng ta đang mắc kẹt tại thời khắc tồi tệ nhất của khủng hoảng là điều rất tồi tệ”, Tara Sinclair – nhà kinh tế học tại Đại học George Washington cho biết.

chủ toạ Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell cho biết trong cuộc điều trần trước Quốc hội tuần này rằng nền kinh tế đang phục hồi, nhưng sở hữu thể cần nhiều tương trợ hơn. “Tất cả chúng ta đều cần duy trì tương trợ tài khóa. Đà phục hồi sẽ nhanh hơn nếu cả Quốc hội và Fed cùng ra tay”, ông nói.

Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell. Ảnh: NYT

chủ toạ Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell. Ảnh: NYT

Một số nhà kinh tế học cảnh báo nền kinh tế sở hữu thể sẽ co lại nếu Quốc hội ko hành động. Nhiều hộ gia đình đã tiết kiệm được tiền hồi đầu năm, nhờ những khoản tương trợ của chính phủ và hàng quán đóng cửa khiến cho họ cũng chẳng sở hữu nơi tiêu tiền. những hộ gia đình tiết kiệm khoảng một phần ba thu nhập sau thuế trong tháng 4. Tỷ lệ tiết kiệm từ đó đã giảm xuống, nhưng vẫn ở mức khá cao so với những cuộc khủng hoảng trước. Việc này sở hữu thể tạo ra bộ đệm tài chính cho người dân.

Tuy nhiên, quỹ dự phòng này khó giúp duy trì cuộc sống cho những gia đình sở hữu người thất nghiệp, do chương trình trợ cấp thất nghiệp bổ sung đã hết hạn và gói tương trợ tạm thời của chính phủ cũng sắp cạn kiệt. những doanh nghiệp được duy trì trong mùa hè cũng sở hữu thể chật vật lúc mùa lạnh đang tới sắp, đặt dấu chấm hết cho những hoạt động và nhà sản xuất ăn uống ngoài trời.

Khủng hoảng tài chính là ví dụ khó quên cho thấy điều gì sẽ xảy ra lúc chính phủ giảm trợ cấp trong thời kỳ kinh tế bất ổn. Giai đoạn đầu khủng hoảng, Quốc hội Mỹ và Nhà Trắng – ban sơ là dưới thời cựu Tổng thống George W. Bush, rồi sau đó là cựu Tổng thống Barack Obama – đã bơm hàng tỷ USD vào nền kinh tế dưới dạng giảm thuế cho tư nhân và doanh nghiệp, chi cho hạ tầng hạ tầng, gia hạn trợ cấp thất nghiệp và nhiều chính sách khác.

Tuy nhiên, ông Obama lại ko giành được sự ủng hộ cho những nỗ lực kích thích to hơn sau đó. tới năm 2010, Quốc hội Mỹ giao lại cho Fed nhiệm vụ xử lý đà phục hồi kinh tế lúc đó vẫn còn yếu.

“Bài học từ cuộc khủng hoảng trước là tỷ lệ thất nghiệp cao kéo dài nhiều năm và chúng ta lại mất nhiều thời kì để hạ xuống”, Robert S. Kaplan – chủ toạ Fed Dallas cho biết, “Giờ đây chúng ta đang sở hữu thời cơ khác, nếu hành động nhanh, để ko phải gánh thiệt hại như lần trước”.

Việc giảm chi tiêu công sớm hậu khủng hoảng tài chính tại những nước châu Âu còn nghiêm trọng hơn. những nền kinh tế yếu hơn, sở hữu mức nợ cao tại khu vực này đã thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng. nhà băng Trung ương châu Âu (ECB) nâng lãi suất năm 2011, tức là bỏ nới lỏng tiền tệ sớm hơn Fed tới 4 năm. những nền kinh tế châu Âu tiếp tục rơi vào khủng hoảng sau đó, khiến cho khu vực này trải qua nhiều năm thất nghiệp ở mức cao, lạm phát thấp và tăng trưởng yếu.

Dĩ nhiên, lần này và lần trước sở hữu nhiều khác biệt quan yếu, đặc thù là tại Mỹ. Nền kinh tế này trước đại dịch mạnh hơn nhiều so với năm 2007. Thời đó, giá nhà tại đây đang tăng mạnh, những khoản vay rủi ro cao cũng khiến cho hệ thống nhà băng dễ tổn thương. Còn ngày nay, giới chức đã hành động nhanh và thẳng thừng hơn rất nhiều.

Hồi tháng 3, Fed hạ lãi suất xuống quanh 0%, trước cả lúc những số liệu cho thấy nền kinh tế Mỹ đang bị tàn phá. Còn trong cuộc khủng hoảng trước, Fed chưa hành động cho tới cuối năm 2008 – một năm sau lúc suy thoái khởi đầu. ECB cũng đã tung chương trình tậu lại trái phiếu khổng lồ – giải pháp mà những nhà hoạch định chính sách tiền tệ eurozone ko thực hiện ngay sau khủng hoảng 2009.

Tuy nhiên, hiện tại, những nhà băng trung ương cũng sở hữu ít dư địa để điều chỉnh chính sách hơn so với một thập kỷ trước. Lãi suất và lạm phát đều đã ở mức rất thấp tại hầu hết quốc gia phát triển.

Vì thế, đây là lúc cần tới chính sách tài khóa – thông qua thuế và chi tiêu công. những lý thuyết kinh tế nói rằng chính sách tài khóa sẽ hiệu quả trong những thời khắc chính sách tiền tệ ko thể phát huy tác dụng.

Đầu khủng hoảng, Quốc hội Mỹ thông qua chính sách tương trợ tiền trực tiếp cho những gia đình, trợ giúp những doanh nghiệp nhỏ, bổ sung trợ cấp thất nghiệp 600 USD một tuần và mở rộng diện tương trợ người thất nghiệp. Tổng cùng, những chương trình này sở hữu quy mô áp đảo so với cuộc khủng hoảng trước.

Sự thẳng thừng này đã rất thành công. Sau lúc thải hồi hàng triệu viên chức trong tháng 3 và 4, những doanh nghiệp dần tuyển lại họ trong tháng 5 và 6. Tiền tương trợ cho gia đình và khoản trợ cấp thất nghiệp bổ sung đã kéo thu nhập người dân lên trong tháng 4 và 5, từ đó kích thích tiêu tiêu dùng. dự đoán về làn sóng tịch biên tài sản và vô gia cư đã ko xảy ra. tới tháng 8, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 8,4%, đập tan những dự đoán rằng múc hai chữ số sẽ kéo dài sang năm sau.

Powell cho biết chi tiêu chính phủ đã tạo ra sự phục hồi này. Tuy nhiên, rủi ro sẽ vẫn đeo bám nếu những chương trình mấu chốt bị hoãn vô thời kì.lúc người thất nghiệp tiêu hết tiền tiết kiệm, họ sẽ giảm chi và mất nhà.

“Nếu ko sở hữu thêm tương trợ, trước sau nền kinh tế cũng sẽ phải trải qua thời kì duy trì tăng trưởng khó khăn. Đó chính là rủi ro”, ông nói.

những nhà kinh tế học cho rằng ông Powell sở hữu vẻ đã rút ra bài học từ cuộc suy thoái trước. lúc đó, Fed bị buộc phải đơn độc giải cứu nền kinh tế. Kết quả là quá trình phục hồi chậm chạp, kéo dài nhiều năm.

“Đại dịch lần này sở hữu thể khiến cho bất đồng đẳng tại Mỹ càng tăng mạnh”, Andy Kim – nghị viên đảng Dân chủ tại New Jersey cho biết, “Một số sẽ vượt qua khủng hoảng tốt hơn nhiều so với những người khác. Rất nhiều người sẽ kiệt quệ cả đời nếu chúng ta ko làm điều cần thiết trong vài tuần hoặc vài tháng tới”.

Hà Thu (theo NYT)

Bài viết: Mỹ sở hữu thể lặp lại sai trái trong khủng hoảng 2009 chia sẽ tại chuyên mục Kinh Doanh.

Từ Khóa: Mỹ sở hữu thể lặp lại sai trái trong khủng hoảng 2009.

Pi Network